• +84-24-35771501
  • info@vietphan.com.vn

Author Archives: Thanh Hằng Lê

TỔNG QUAN VỀ THÔNG KHÍ NHÂN TẠO, THỞ MÁY

Thanh Hằng Lê No Comments

1. Thở máy là gì?

Thở máy hỗ trợ bệnh nhân sau phẫu thuật

Thông khí nhân tạo (thở máy): Là biện pháp dùng để hỗ trợ bệnh nhân thở khi bệnh nhân hồi phục sau phẫu thuật hoặc khi mắc bệnh nặng hoặc khi bệnh nhân không thể thở được vì bất kỳ nguyên nhân nào. Bệnh nhân được máy hỗ trợ thở thông qua ống nội khí quản (thở máy xâm nhập) hoặc qua mặt nạ (thở máy không xâm nhập) cho đến khi bệnh nhân có thể tự thở.

2. Tại sao phải sử dụng thông khí nhân tạo?

STTChỉ định thông khí nhân tạo
1Ngừng thở
2Suy hô hấp cấp do giảm O2 máu
3Suy hô hấp cấp do tăng CO2 máu
4Suy hô hấp mạn phụ thuộc máy thở
5Chủ động kiểm soát thông khí (gây mê phẫu thuật, giảm áp lực nội sọ…)
6Giảm nhu cầu tiêu thụ O2, giảm công thở
7Ổn định thành ngực (mảng sườn di động), dự phòng và điều trị xẹp phổi

Lưu ý: thông khí nhân tạo không chữa lành bệnh, nó chỉ giúp bệnh nhân ổn đinh trong thời gian chờ thuốc và các biện pháp điều trị phát huy tác dụng.

3. Các phương pháp thông khí nhân tạo

3.1 Thông khí nhân tạo xâm nhập

Có nhiều phương pháp thở máy khác nhau

  • Thông khí nhân tạo xâm nhập: Là thông khí nhân tạo qua ống nội khí quản hoặc mở khí quản
  • Chỉ định đối với những trường hợp:
    • Suy hô hấp cấp: hầu hết các suy hô hấp cấp, trừ các trường hợp cần thông khí theo phương thức giảm thông khí phế nang điều khiển.
    • Tổn thương phổi cấp do chấn thương đụng dập phổi, do đuối nước, do hít…
    • Giảm thông khí phế nang do bệnh lý thần kinh cơ, bệnh lý thần kinh trung ương, ngộ độc.
    • Đợt cấp của suy hô hấp mạn tính.
    • Sau cấp cứu ngừng tuần hoàn.

3.2 Thông khí nhân tạo không xâm nhập

  • Thông khí nhân tạo không xâm nhập là phương pháp thông khí cho bệnh nhân mà không cần phải đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản. Thông khí có thể qua mặt nạ mũi hoặc mặt nạ mũi – miệng
  • Chỉ định đối với những trường hợp:
    • Sau phẫu thuật tim phổi
    • Sau gây mê phẫu thuật
    • Mức độ nhẹ của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy hô hấp cấp tiến triển, tổn thương phổi cấp, phù phổi cấp
    • Suy tim
    • Hội chứng ngưng thở khi ngủ
    • Sau rút nội khí quản.

4. Thông khí nhân tạo có những nguy cơ gì?

  • Trên cơ quan hô hấp:
  • Chấn thương phổi do áp lực
    • Rối loạn trao đổi khí
    • Viêm phổi liên quan thở máy
    • Xẹp phổi
    • Các biến chứng do ống nội khí quản, mở khí quản
  • Trên các cơ quan khác:
    • Ảnh hưởng trên tim mạch: giảm cung lượng tim, hạ huyết áp (nhất là khi dùng áp lực cuối thì thở ra (PEEP) và/hoặc thể tích lưu thông cao).
    • Rối loạn thận – tiết niệu: giảm tưới máu thận, tăng tiết ADH (hormone chống bài niệu tiết ra từ tuyến yên), gây ứ nước.
    • Rối loạn tiêu hoá: chướng bụng, liệt ruột, táo bón do nằm lâu; loét đường tiêu hoá do stress, xuất huyết tiêu hoá do stress.
    • Tăng áp lực nội sọ khi dùng PEEP.
    • Rối loạn tâm thần.

5. Các kỹ thuật phối hợp với thông khí nhân tạo

  • Hút đờm dãi: Sử dụng ống hút nối với hệ thống áp lực âm, hút đờm dãi xuất tiết qua ống nội khí quản. Biện pháp này là rất quan trọng trong việc duy trì sự thông thoáng của đường thở. Nguy cơ của thủ thuật này là nhiễm khuẩn.
  • Khí dung thuốc: Bệnh nhân có thể cần sử dụng thuốc qua đường khí dung. Thuốc được phun vào đường thờ và hiệu quả tác dụng cao hơn so với dùng đường toàn thân.
  • Soi phế quản: Bác sĩ sẽ dùng một ống soi nhỏ có camera đưa vào đường thở bệnh nhân. Đây là biện pháp rất hiệu quả để kiểm tra đường thở, lấy mẫu xét nghiệm để tìm nguyên nhân gây bệnh

6. Ai là người thực hiện thông khí nhân tạo?

  • Bác sĩ: Bao gồm các bác sỹ hồi sức tích cực, cấp cứu hoặc gây mê. Các bác sỹ đều được đào tạo huấn luyện thành thạo chuyên sâu về kỹ thuật này.
  • Điều dưỡng/ Kỹ thuật viên gây mê/ Kỹ thuật viên trị liệu hô hấp: các điều dưỡng và kỹ thuật viên được đào tạo, huấn luyện đặc biệt về các phương pháp chăm sóc bệnh nhân thở máy, xử lý các sự cố kỹ thuật nếu có trong quá trình vận hành máy thở, giúp bệnh nhân phục hồi nhanh hơn.

ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM BẰNG PHƯƠNG PHÁP KÍCH THÍCH TỪ TRƯỜNG XUYÊN SỌ

Thanh Hằng Lê No Comments

Trong xã hội công nghiệp hiện đại, trầm cảm là căn bệnh khá phổ biến, đặc biệt trầm cảm “kháng thuốc” là vấn đề khó, phức tạp. Nhiều thử nghiệm cho thấy, “Kích thích từ xuyên sọ” có tác dụng điều trị khá tốt với những trường hợp trầm cảm kháng thuốc này.

ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM BẰNG PHƯƠNG PHÁP KÍCH THÍCH TỪ TRƯỜNG XUYÊN SỌ
ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM BẰNG PHƯƠNG PHÁP KÍCH THÍCH TỪ TRƯỜNG XUYÊN SỌ

Trầm cảm là bệnh gìTrầm cảm là một bệnh thuộc tâm thần học đặc trưng bởi sự rối loạn khí sắc. Bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn gây nên do một yếu tố tâm lý nào nào tạo thành những biến đổi bất thường trong suy nghĩ hành vi tác phong.

Phụ nữ thường gặp bệnh trầm cảm nhiều hơn nam giới (2 nữ/ 1 nam) xảy ra ở nhiều lứa tuổi đặc biệt trong độ tuổi trưởng thành. Tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm ngày một gia tăng, là một bệnh phổ biến ở trên toàn cầu. Theo tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 850.000 người chết do hành vi tự sát do bệnh trầm cảm. Tuy nhiên trong số đó những người được chẩn đoán và điều trị kịp thời còn rất thấp, chỉ chiếm khoảng 25%.

Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% trường hợp tự sát, trầm cảm do nguyên nhân khác nhau nhưng gặp tỉ lệ cao ở các đối tượng thất nghiệp, phá sản, ly hôn…

Các triệu chứng của trầm cảm

Các triệu chứng của bệnh trầm cảm có thể bao gồm:

  • Tâm trạng chán nản;
  • Giảm hứng thú hoặc niềm vui trong các hoạt động từng được yêu thích;
  • Mất ham muốn tình dục;
  • Thay đổi cảm giác thèm ăn;
  • Giảm hoặc tăng cân không chủ ý;
  • Thay đổi thói quen giấc ngủ;
  • Thường xuyên kích động, lo lắng và thay đổi cảm xúc;
  • Giảm tốc độ giao tiếp và vận động;
  • Mệt mỏi, thiếu năng lượng;
  • Cảm giác vô dụng hay tội lỗi;
  • Khó suy nghĩ, tập trung hoặc đưa ra quyết định;
  • Ý nghĩ về cái chết hoặc tự tử lặp đi lặp lại hoặc cố gắng thực hiện hành vi tự tử.

Trầm cảm là bệnh không còn xa lạ có thể chữa trị được khỏi hoàn toàn vì vậy cần được khám và điều trị kịp thời.

Trong xã hội công nghiệp hiện đại, trầm cảm là căn bệnh khá phổ biến, đặc biệt trầm cảm “kháng thuốc” là vấn đề khó, phức tạp. Nhiều thử nghiệm cho thấy, “Kích thích từ xuyên sọ” có tác dụng điều trị khá tốt với những trường hợp trầm cảm kháng thuốc này

* Kích thích từ xuyên sọ là gì ?
Kích thích từ xuyên sọ (TMS) là một công nghệ sử dụng từ trường để kích thích các tế bào thần kinh trong não để cải thiện các triệu chứng trầm cảm. Trong suốt quá trình, một cuộn điện từ lớn được đặt trên da đầu của bệnh nhân gần trán. Nam châm điện tạo ra dòng điện kích thích các tế bào thần kinh ở vỏ não trước trán được cho là có liên quan đến việc kiểm soát tâm trạng và trầm cảm. Thủ tục này không gây đau đớn, không có tác dụng phụ được báo cáo và thường được thực hiện như một thủ tục ngoại trú tại văn phòng hoặc phòng khám của bác sĩ tâm thần. Các buổi hàng ngày thường được yêu cầu trong bốn đến sáu tuần để có được lợi ích trị liệu đầy đủ.

* Kích thích từ xuyên sọ hoạt động thế nào?

Các xung từ trường thay đổi nhanh sẽ làm thay đổi cách phóng điện của các tế bào thần kinh trong não. Sự thay đổi cách phóng điện thần kinh này làm thay đổi mô hình phóng điện của các tế bào thần kinh bệnh lý trong các bệnh trầm cảm, rối loạn chức năng não…

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, và có thể trở lại làm việc như bình thường ngay ngay sau đó, không cần dùng thuốc hoặc gây mê. Bệnh nhân sẽ ngồi thoải mái trên ghế tựa suốt cả phiên. Một điều trị khoảng từ năm phút đến 60 phút. Một khóa điều trị điển hình là khoảng 4-6 tuần.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ MÁY SỐC ĐIỆN TIM

Thanh Hằng Lê No Comments

Máy shock điện được phát minh vào năm 1899 do hai nhà sinh lý học người Y là Prevost và Batelli. Hai ông nhận thấy trong thực nghiêm trên chó có thể chuyển tình trạng rung thất về nhịp xoang nhờ shock điện. Trường hợp đầu tiên hồi sức cấp cứu thành công nhờ shock điện là một ca bệnh nhi 14 tuổi đang mổ ngực bị rung thất, được báo cáo bởi bác sĩ phẫu thuật người Mỹ là Claude S. Beck và cộng sự vào năm 1947.

SỐC TIM LÀ GÌ:

Sốc tim là tình trạng giảm cung lượng tim không đáp ứng được nhu cầu oxy của các tổ chức trong cơ thể. Chẩn đoán sốc tim đặt ra sau khi đã loại trừ các sốc khác: sốc giảm thể tích, sốc phản vệ, sốc nhiễm khuẩn.

Các rối loạn huyết động đặc trưng trong sốc tim:

  • Cung lượng tim giảm với chỉ số tim < 2,2 lít/phút/m2.
  • Áp lực tĩnh mạch trung tâm cao (> 10 mmHg) và áp lực mao mạch phổi bít cao (> 15mmHg).
  •  Chênh lệch oxy giữa máu mao mạch và máu tĩnh mạch cao (DA-VO2 lớn hơn 0,55ml O2/lít) do rối loạn trong sốc tim là do tổn thương chức năng tim không phải do rối loạn ở ngoại vi.

Trong điều trị sốc tim: một mặt khẩn trương điều trị triệu chứng và hồi sức toàn diện, mặt khác cần tìm và giải quyết nguyên nhân sớm nếu có thể được.
Suy tim trong bệnh cảnh sốc tim là vấn đề lâm sàng lớn bởi vì tỉ lệ tử vong cao lên tới 30 – 90%. Tiên lượng phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân gây ra sốc tim và khả năng can thiệp của thầy thuốc.
Đây là tình trạng cần được cấp cứu tại chỗ và vận chuyển bằng xe ôtô có trang thiết bị cấp cứu ban đầu đến khoa hồi sức.

PHÂN LOẠI MÁY SỐC ĐIỆN TIM:

Có 3 loại máy sốc điện:

  • Máy sốc điện cầm tay (Manual Defibrillators, or Defibrillator Paddles)
  • Máy sốc điện bên ngoài tự động (Automatic ExternalDefibrillators (AEDs)
  • Máy sốc điện chuyển nhịp cấy dưới da tự động (Automatic Implantable Cardioverter Defibrillator)

CẤU TẠO MÁY SỐC ĐIỆN:

Máy sốc điện bao gồm:

1. Bộ phận tạo xung điện là một tụ điện tích điện từ nguồn điện xoay chiều có khả năng phóng ra được dòng điện với các tính chất mong muốn theo yêu cầu sốc điện.

2. Bản sốc điện có kích cỡ thay đổi tùy sốc trong hay ngoài lồng ngực, người lớn hay trẻ em. Đối với người lớn sốc điện qua thành ngực, đường kính cần ≥ 80cm.

3. Dây điện cực với 3 – 5 điện cực.

4. Màn huỳnh quang (Monitor) hiển thị sóng điện tim thu từ các điện cực hoặc bản sốc điện và các thông số kỹ thuật.

5. Nút hoặc phím để chọn phương thức sốc điện đồng bộ (SYN = synchronization)

6. Nút hoặc phím lựa chọn mức năng lượng (tính bằng joules hoặc watt). Các mức 5-50j chủ yếu dùng cho sốc điện trực tiếp trên tim khi phẫu thuật mở lồng ngực; các mức cao hơn thường dùng cho sốc điện ngoài lồng ngực.

7. Nút/ phím nạp điện (CHARGE)

8. Nút phóng điện

CÁC LOẠI MÁY SỐC TIM DO VIỆT PHAN CUNG CẤP:

Máy sốc tim Medical Hàn Quốc CU-SP1
Máy phá rung tim tạo nhịp Cardiostart – USDefib Mỹ
Máy sốc tim-D500-Mediana Hàn Quốc

VAI TRÒ CỦA SỐC ĐIỆN TRONG ĐIỀU TRỊ, CẤP CỨU CÁC BỆNH TIM MẠCH

Thanh Hằng Lê No Comments

Sốc điện là phương pháp dùng năng lượng điện để khôi phục lại nhịp tim, giúp dập tắt và làm ổn định nhanh chóng phần lớn các rối loạn nhịp tim, đây là phương pháp được sử dụng trong nhiều trường hợp điều trị và cấp cứu tim mạch.

VAI TRÒ CỦA SỐC ĐIỆN TRONG ĐIỀU TRỊ, CẤP CỨU CÁC BỆNH TIM MẠCH
VAI TRÒ CỦA SỐC ĐIỆN TRONG ĐIỀU TRỊ, CẤP CỨU CÁC BỆNH TIM MẠCH

1. Vai trò của sốc điện trong điều trị, cấp cứu các bệnh tim mạch

Sốc điện gồm có hai phương pháp là sốc điện chuyển nhịp và sốc điện phá rung.

Sốc điện giúp khử cực hầu hết các tế bào cơ tim đang bị kích thích, dập tắt các rối loạn nhịp nhanh đang chiếm quyền chủ nhịp của nút xoang, cắt đứt các vòng vào lại nếu nhịp nhanh do cơ chế vào lại, tạo điều kiện cho nút xoang tiếp tục hoạt động tạo nhịp bình thường. Đây là phương pháp đơn giản, tác dụng nhanh được sử dụng trong nhiều trường hợp điều trị, cấp cứu một số bệnh tim mạch.

Hiệu quả của sốc điện phụ thuộc vào điện thế sử dụng khi sốc điện và sức kháng trở, các yếu tố ảnh hưởng đến sức kháng trở là hình thái, tình trạng phối, lồng ngực của người bệnh.

Có hai phương thức sốc điện là:

  • Sốc điện phá rung (còn gọi là sốc điện không đồng bộ): Phóng dòng điện ở bất kỳ chu chuyển tim nào của bệnh nhân, ngay thời điểm bấm nút máy sốc điện.
  • Sốc điện chuyển nhịp (còn gọi là sốc điện đồng bộ): Phóng dòng điện “đồng bộ hóa” với phức bộ QRS, thường là vào sóng R hoặc sóng S nếu không có sóng R để tránh phóng điện vào thời kỳ nguy hiểm (sóng T). Nói cách khác, trong sốc điện chuyển nhịp, máy sẽ nhận biết để phóng xung điện đồng bộ với sóng R(hoặc S) chứ không phải vào thời điểm bấm nút.

2. Sốc điện được chỉ định trong các bệnh tim mạch nào?

2.1 Sốc điện chuyển nhịp tim

Sốc điện chuyển nhịp tim có thể được chỉ định trong các trường hợp rối loạn nhịp trên thất có huyết động không ổn định như:

  • Rung nhĩ
  • Cuồng nhĩ
  • Nhịp nhanh trên thất do cơ chế vào lại
  • Tim nhanh thất
  • Nhịp nhanh thất đơn dạng, đa dạng, nhịp nhanh có phức hợp QRS rộng không rõ loại

Các nghiên cứu cho thấy sốc điện chuyển nhịp tim an toàn với phụ nữ có thai, không ảnh hưởng đến nhịp tim và các vấn đề khác của thai nhi. Đối với bệnh nhân đã được cấy máy tạo nhịp hoặc máy phá rung tự động, việc sốc điện có thể tiến hành an toàn, lưu ý là bản cực sốc điện cần để cách máy tạo nhịp ít nhất 12cm.

2.2 Sốc điện phá rung

Sốc điện phá rung được chỉ định trong các trường hợp:

  • Rung thất
  • Tim nhanh thất vô mạch
  • Ngưng tim sau rung thất

3. Phương pháp tiến hành sốc điện

3.1 Chuẩn bị

Trong các trường hợp cấp cứu tim mạch:

Trong các trường hợp cấp cứu tim mạch, bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim nhanh gây ngừng tuần hoàn, giảm huyết động nghiêm trọng, mất ý thức, sốc điện nên được tiến hành càng sớm càng tốt, có thể bỏ qua các bước chuẩn bị như gây mê, gây mê, dùng thuốc chống đông,…

Trong trường hợp điều trị bệnh tim mạch không khẩn cấp

Thăm khám lâm sàng cẩn thận, xem xét quá trình sử dụng thuốc, giải thích cho bệnh nhân về phương pháp sử dụng sốc điện. Dặn bệnh nhân nên nhịn đói từ đêm hôm trước hoặc bỏ một bữa ăn trước khi tiến hành sốc điện. Theo dõi ECG liên tục nhất là trước và sau khi thực hiện sốc điện. Bệnh nhân phải được sốc điện trong môi trường có đầy đủ phương tiện để thực hiện cấp cứu ngừng tuần hoàn hô hấp CPR khi cần thiết.Nếu bệnh nhân có sử dụng Digoxin, nếu có thể nên định lượng nồng độ Digoxin và đo điện giải đồ. Nếu bệnh nhân dùng thuốc kháng đông, nên kiểm tra thời gian Prothrombin.

3.2 Mức năng lượng điện

Hiện máy sốc điện có hai loại thường được sử dụng là máy sốc điện một pha và máy sốc điện hai pha. So với máy sốc điện một pha thì máy sốc điện hai pha có nhiều ưu điểm hơn như: Sử dụng mức năng lượng thấp hơn (năng lượng sốc điện của máy hai pha chỉ bằng 75% máy một pha) do đó ít gây tổn thương cơ tim và da cơ, hiệu quả sau lần sốc đầu tiên cao hơn.

NHỮNG LƯU Ý KHI SỬ DỤNG MÁY MONITOR THEO DÕI BỆNH NHÂN

Thanh Hằng Lê No Comments

Ngày nay, monitor theo dõi bệnh nhân là một thiết bị rất quan trọng trong các khoa cấp cứu, chăm sóc đặc biệt, phòng mổ…..vv

Monitor là thiết bị theo dõi các thông số sinh học chứa những thông tin về bệnh lý bao gồm điện tim ECG, nhịp tim HR, nhịp thở RESP, nhịp mạch PR, nồng độ oxi bão hòa, huyết áp không thiệp NIBP, nhiệt độ cơ thể TEMP.

Việt Phan xin đưa ra một vài điểm lưu ý trong quá trình sử dụng Monitor theo dõi bệnh nhân để đạt được hiệu quả cao khi sử dụng như sau:  

NHỮNG LƯU Ý KHI SỬ DỤNG MÁY MONITOR THEO DÕI BỆNH NHÂN
NHỮNG LƯU Ý KHI SỬ DỤNG MÁY MONITOR THEO DÕI BỆNH NHÂN

1. Khác biệt màu trên các điện cực đo tim

Có 2 loại mã màu khác nhau trên các điện cực đo điện tim. Một loại trong đó được quy định từ International Electrotechnical Commossion (IEC) và một loại từ American Heart Association (AHA). Những bác sĩ có kinh nghiệm chỉ cần nhìn vào điện cực R (RA) để biết được dây đo điện tim theo mã màu nào.

2. Lý do thông số đo trên màn hình thay đổi chậm

Màn hình hiển thị các thông số đo trên các monitor thường thay đổi trị số rất chậm vì thông thường monitor được sử dụng để quan sát bệnh nhân trong thời gian dài, một vài thông số đo lại phải được cập nhập vào bộ nhớ nên trong monitor có một hệ thống cập nhập số liệu đo với một khoảng thời gian định trước. Thường giá trị mặc định là 5s, giá trị này cũng có thể thay đổi bởi người sử dụng

3. Các ghi chú về việc đo SpO2

Khi đo thông số SpO2, thường gặp các rắc rối là giá trị đo không ổn định được. Sau đây là các bước kiểm tra cơ bản để khắc phục.

  • Kiểm tra kết nối sensor với monitor

Sensor phải được cắm chắc vào thiết bị, thông thường đầu sensor có khóa để giữ dây nhưng có một vài loại monitor, sensor chỉ có giắc cắm vào máy và không có khóa giữ, có thể bị rời khỏi máy khi bệnh nhân di chuyển.

  • Kiểm tra vị trí đặt sensor: Kiểm tra bề mặt da ngón tay chỗ đặt sensor phải sạch và khô, móng tay bệnh nhân có bị bẩn hay không, bệnh nhân có sử dụng móng tay giả hay không…
  • Kiểm tra dòng máu chảy đến ngón tay
  • Kiểm tra bóng hơi đo huyết áp có cùng trên cánh tay đang dặt sensor oximeter hay không? Theo nguyên lý đo huyết áp bóng sẽ được bơm và xả hơi theo chu kỳ đo, và điều này làm chặn sự lưu thông máu đến các ngón tay. Nếu sensor oximeter lại đặt trên ngón tay này thì sai số sẽ xảy ra vì sensor không bắt được nhịp mạch máu và monitor sẽ báo động liên tục.

4. Lý do không đo được huyết áp dù đã kiểm tra dây nối

Khi không đo được huyết áp, thông thường sẽ phải kiểm tra xem bóng hơi có gắn chắc với đường ống hơi vào monitor không. Nếu đã gắn chắc mà vẫn không đo được, các kỹ thuật viên cần lưu ý các điểm sau:

  • Xem bóng hơi có được bơm lên hay không, lúc này quan sát nhanh giá trị áp lực trên màn hình, chúng ta thấy rằng giá trị này sẽ tăng dần lên trị số tới hạn đặt trước ( thường là 160mmHg). Nếu giá trị này không tăng dần hoặc  dừng lại thì có thể bóng hơi bị thủng.
  •  Trường hợp bóng hơi được bơm lên giá trị tới hạn và được xả hơi ra chúng ta quan sát tốc độ xả hơi, nếu giá trị áp lực tụt nhanh thì cũng không đo được trị số huyết áp của bệnh nhân. Cần xem chỉnh lại van xả hơi của mạch đo huyết áp. 

CÁC DẠNG SÓNG THƯỜNG GẶP TRÊN MÁY MONITOR THEO DÕI BỆNH NHÂN

Thanh Hằng Lê No Comments

Dạng sóng Pleth
Dạng sóng Pleth được tạo ra từ tín hiệu thu được của cảm biến đo SpO2 nhưng dạng sóng Pleth không phải là sự dao động của giá trị SpO2. Giá trị SpO2 thường được thể hiện bằng dạng số trên các monitor theo dõi bệnh nhân. 

Pleth được viết tắt từ Plethysmography có nghĩa là biểu đồ đo thể tích. Nó thể hiện sự thay đổi thể tích trong một cơ quan hay trong toàn bộ cơ thể (thường là thể tích máu hoặc khí). Các cảm biến SpO2 dựa trên hiện tượng hấp thụ ánh sáng để tính toán lượng máu lưu thông trong phần mô giữa đầu phát và đầu thu ánh sáng, do đó đồ thị tạo ra cũng được gọi là Plethysmography hay cụ thể hơn là Photopethysmography (PPG).

Các nhà sản xuất khác nhau dùng các phương pháp khác nhau để hiệu chỉnh tín hiệu từ sensor nên dạng sóng Pleth trên các monitor có đôi chút khác biệt. Tuy nhiên, dạng sóng Pleth nói chung sẽ có dạng như sau:

Mỗi chu kỳ trên dạng sóng này ứng với một nhịp đập của tim. Đường đi lên ứng với quá trình tâm thu, máu từ động mạch chủ được bơm đến ngón tay. Đường đi xuống ứng với quá trình tâm trương. Trên đường đi xuống có một gai nhỏ, gai này được tạo ra do máu từ động mạch chủ khi được bơm đến các phần dưới cơ thể tạo sẽ áp lực lên trên và truyền đến ngón tay. Độ cao của sóng cho biết dung lượng máu lưu thông trong động mạch, chiều dài bước sóng cho biết nhịp tim. Các dạng sóng Pleth không bình thường sẽ cho bác sỹ một số thông tin về tình trạng của bệnh nhân.

Một số monitor không vẽ sóng Pleth mà biểu diễn sự thay đổi thể tích máu lưu thông trong động mạch diễn bằng sự dao động của một chuỗi vạch. Ngày nay, nhờ sự phát triển của công nghệ, thiết bị đo SpO2 ngày càng đơn giản và rẻ, do đó giá trị SpO2 cùng sóng Pleth đã và đang trở thành một thông tin quan trọng phục vụ cho công tác chẩn đoán của bác sĩ.

Dạng sóng ECG
Dạng sóng ECG là một trong những dạng sóng quan trọng nhất của monitor theo dõi bệnh nhân. Các monitor thường không theo dõi đầy đủ 12 đạo trình như máy điện tim chuyên dụng. Monitor thông thường sử dụng 3 điện cực theo dõi được 3 đạo trình và 5 điện cực theo dõi được 7 đạo trình. Dạng sóng điện tim bình thường sẽ có hình dạng như sau:

– Sóng P: Sóng P thể hiện quá trình khử cực ở tâm nhĩ trái và phải, sóng P có dạng một đường cong điện thế dương phía trước phức QRS. Sóng P kéo dài khoảng 0,06 đến 0,1 giây.
– Đoạn PR: Đoạn PR là đoạn từ điểm bắt đầu sóng P đến điểm bắt đầu phức QRS. Nó bao gồm thời gian khử cực tâm nhĩ và dẫn đến nút AV thông qua hệ thống His-Purkinje. Đoạn PR kéo dài khoảng 0,12 đến 0,20 giây
– Phức QRS: thể hiện quá trình khử cực tâm thất. Đoạn này kéo dài khoãng 0,04 đến 0,1 giây.
– Đoạn ST: Đoạn ST kể từ lúc kết thúc quá trình khử cực tâm thất đến trước khi quá trình tái phân cực bắt đầu. Điểm bắt đầu đoạn này được gọi là “điểm J”, điểm kết thúc gọi là “điểm ST”
– Sóng T: Sóng T thể hiện quá trình tái phân cực tâm thất. Vì tốc độ tái phân cực nhỏ chậm hơn khử cực nên sóng T rộng và có độ dốc thấp.
– Sóng U: Có thể quan sát sóng U ở một số đạo trình, đặc biệt là các đạo trình quanh ngực V2-V4. Nguyên nhân gây sóng này còn chưa rõ ràng, có giả thiết cho rằng nó thể hiện sự trễ của quá trình tái phân cực của hệ thống His-Purkinje.
Sóng điện thể hiện được rất nhiều thông tin bệnh lý về tim mạch và đã được sử dụng trong chẩn đoán từ đầu thế kỷ 20.

Dạng sóng EtCO2 (Capnogram)
EtCO2 (End-Tidal CO2) là phương pháp đo CO2 cuối kỳ thở ra. Hình trên mô tả 1 đoạn dạng sóng EtCO2 bình thường. Đoạn AB là đoạn cuối kỳ thở vào  và bắt đầu kỳ thở ra của không gian chết, điểm B bắt đầu kỳ thở ra của túi phổi. Đoạn AB còn được gọi là đường nền của quá trình hô hấp, nó cho biết nồng độ CO2 trong các không gian chết của đường thở. Đoạn BC là đoạn đi lên của kỳ thở ra khi khí trong các không gian chết trộn với khí từ túi phổi thở ra. Đoạn CD là tiếp tục của kỳ thở ra, hay đoạn bình nguyên (plateau, tất cả khí đều từ túi phổi đi ra, nhiều CO2). D là điểm kết thúc một chu kỳ thở vào-thở ra và bắt đầu một chu kỳ mới, tại đây nồng độ CO2 đạt đỉnh. Đoạn DE nồng độ CO2 giảm dần do sự pha loãng cùa khí thở vào.

Giá trị EtCO2 bình thường nằm trong khoảng 35 – 45 mmHg. Nếu giá trị nằm ngoài khoảng này và hình dạng của dạng sóng không bình thường, các bác sĩ có thể chẩn đoán được một số bệnh lí.

Dạng sóng thở (Respiration waveforms)
Thông thường monitor có thể tính nhịp thở từ bộ phận đo EtCO2 hoặc ECG. Tuy nhiên, để vẽ dạng sóng thở, monitor lấy tín hiệu từ bộ đo ECG. Kỹ thuật thường được sử dụng là đo trở kháng (impedance) giữa hai điện cực điện tim (thường là 2 đầu đạo trình I hoặc II), do đó dạng sóng thở trên monitor thường được gọi là “impedance respiration waveform”. Dạng sóng thở thông thường trên monitor sẽ như hình sau: 

Dạng sóng thở đo bằng phương pháp trở kháng

Sự biến đổi của đường cong ứng với sự thay đổi trở kháng của lồng ngực. Mỗi chu kỳ gồm 1 đường cong lên xuống, đoạn đi lên ứng với kỳ thở vào, thể tích lồng ngực tăng khiến trở kháng cũng tăng. Đoạn đi xuống ứng với kỳ thở ra. Người ta cũng phát triển các phương pháp vẽ dạng sóng thở nhờ các biến đổi toán học tín hiệu điện tim.

Dạng sóng huyết áp (Blood pressure waveform)
Để theo dõi huyết áp liên tục và vẽ đồ thị, các bác sĩ phải sử dụng phương pháp đo huyết áp xâm lấn (Invasive Blood Pressure hay IBP). Người ta có thể đo IBP tại nhiều vị trí trên cơ thể nhưng thông thường nhất là đo ở động mạch quay, đùi,…Dạng sóng huyết áp có hình dạng gần giống với hình dạng sóng Pleth do cả hai đều liên quan đến mức độ bơm máu đến động mạch. 

Ngoài các dạng sóng cơ bản trên, các monitor cao cấp hoặc chuyên dụng còn vẽ dạng sóng của các thông số khác khác.Tuy nhiên,các thông số này thường chỉ cần theo dõi trong những trường hợp đặc biệt.

MONITOR SẢN KHOA

Thanh Hằng Lê No Comments

Để đánh giá sự phát triển của bé trong bụng mẹ, ngoài những chỉ số đo đạc qua siêu âm, các bác sĩ sản khoa còn dựa vào monitor theo dõi nhịp tim thai. Đây là một công cụ đơn giản nhưng lại vô cùng hữu ích, giúp bác sĩ mau chóng đưa ra hướng xử lý phù hợp. Vậy monitor theo dõi tim thai là gì, thực hiện lúc nào và bằng cách nào, ý nghĩa của nó ra sao? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây:

Sự điều hòa của nhịp tim thai là kết quả của nhiều yếu tố tương tác với nhau, bao gồm các yếu tố từ mẹ (như cơn gò tử cung khi chuyển dạ) và các yếu tố từ bản thân thai nhi (như tuổi thai, tư thế, cử động của bé trong buồng tử cung).

Monitor sản khoa
Monitor sản khoa

1. Monitor theo dõi tim thai là gì?

Monitoring sản khoa ghi lại đồng thời nhịp tim thai và hoạt động cơ tử cung (TC). Đường biểu diễn thu được gọi là CTG (cardiotocography). Khi đánh giá và diễn dịch các đường ghi trên CTG phải đánh giá các đặc điểm của nhịp tim thai và hoạt động của cơn co tử cung. Bất kỳ sự sai lệch nào vượt ra ngoài các đường biểu diễn bình thường cũng cần được nhận biết và phân tích để đưa đến một kết luận đúng đắn trong quá trình theo dõi chuyển dạ để tránh dẫn đến can thiệp muộn hoặc can thiệp không cần thiết cho mẹ và thai nhi.

Ngoài ra, theo dõi tim thai bằng monitor không chỉ thu thập thông tin tim thai mà còn ghi nhận cơn gò của tử cung và các cử động của thai (thai máy) xảy ra trong lúc gắn máy. Về mặt nguyên tắc, bất cứ lúc nào ghi nhận được tim thai đều có thể theo dõi monitor. Tuy nhiên, trong giai đoạn tam cá nguyệt thứ ba (ba tháng cuối thai kì), nhất là những ngày cận kề ngày dự sinh hoặc theo dõi tim thay ngay trong quá trình chuyển dạ, vai trò của monitor có ý nghĩa hơn cả.

Monitor sản khoa FM20 – Mediana Hàn Quốc

Bằng cách sử dụng một đầu dò đặt trên thành bụng mẹ, điện cực sẽ ghi nhận tần số và biên độ của tim thai. Kết quả được ghi nhận liên tục, vẽ trên giấy một đường biểu diễn kéo dài trong suốt quá trình đặt máy. Đây được gọi là monitor theo dõi nhịp tim thai.

2. Các kết quả của monitor theo dõi tim thai

Monitor ghi nhận sự biến thiên của các giá trị như sau:

2.1. Nhịp tim thai cơ bản

Nhịp tim thai cơ bản là số lần trung bình tim của bé đập trong một phút khi không có cơn gò tử cung hoặc cử động thai.

Nhịp tim thai bình thường là từ 120 đến 160 lần trong một phút. Nếu trên 160 lần sẽ gọi là nhịp nhanh và dưới 120 lần sẽ gọi là nhịp chậm. Nhịp nhanh trầm trọng hoặc nhịp chậm trầm trọng là khi nhịp tim thai trên 180 lần hoặc dưới 100 lần trong một phút.

2.2. Những dao động nội tại

Khi có sự tác động từ bên ngoài (như cơn gò, cử động của thai), trung tâm điều khiển nhịp tim sẽ kích thích tăng tần số, nhằm cung cấp lượng máu nhiều hơn cũng như để chịu đựng tình trạng thiếu oxy tương đối, nhất là trong quá trình chuyển dạ. Sự biến đổi nhịp tim thai quanh nhịp tim cơ bản gọi là những dao động nội tại.

Dao động nội tại được xem là bình thường nếu như tim thai của bé tăng được hơn 10 nhịp trong một phút so với nhịp tim thai cơ bản.

2.3. Cử động thai

Các cử động thai được ghi nhận bằng cảm nhận của mẹ. Trong thời gian theo dõi là 20 phút, bé yêu của bạn được đánh giá là bình thường nếu có từ trên 2 lần cử động.

Trong trường hợp 10 phút đầu chưa thấy thai máy, các mẹ bầu được khuyên cần “đánh thức” bé dậy bằng cách vỗ nhẹ, rung lắc bụng hoặc nói chuyện với bé, cho bé nghe nhạc… Bởi vì chỉ khi có cử động thai, các bác sĩ mới đánh giá được những dao động nội tại có bình thường hay không.

Nếu kết quả không đáp ứng tốt, đây là một dấu hiệu báo động thai có thể bị suy. Phương pháp này góp phần giúp bác sĩ nhận định tiếp tục thai kì hay nên chấm dứt thai kì là có lợi hơn.

Việc đánh giá sức khỏe của thai nhi bằng monitor cho kết quả khá tin cậy, đặc biệt là khi theo dõi trong giai đoạn cuối hay những thai kì nguy cơ cao. Chính vì thế, các mẹ bầu sẽ hoàn toàn yên tâm khi theo dõi tìm tim thai bằng monitor cho bé, tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra.

Monitor sản khoa FM20 – Mediana Hàn Quốc

là thiết bị được nhiều bệnh viện, phòng khám sản phụ khoa đầu tư bởi tính năng hiệu quả, chính xác và bền bỉ.

Chi tiết Monitor Sản khoa FM20:

TỔNG QUAN VỀ MONITOR THEO DÕI BỆNH NHÂN

Thanh Hằng Lê No Comments

Máy Monitor theo dõi bệnh nhân là một trong những thiết bị giúp theo dõi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Nó đưa ra những thống kê, thông báo cũng như việc cảnh báo kịp thời dựa trên những thông số về tiêu chuẩn, về chỉ số sống hay những thông số cần đo. Bài viết dưới đây chúng tôi sẽ đi sâu phân tích để bạn hiểu hơn về dòng máy này.

Tổng quan về Monitor theo dõi bệnh nhân
Tổng quan về Monitor theo dõi bệnh nhân
  1. Vai trò của máy monitor theo dõi bệnh nhân

Monitor theo dõi bệnh nhân giúp các bác sĩ có thể theo dõi liên tục các chỉ số cần quan sát, theo dõi bệnh nhân từ đó đưa ra được các đánh giá, phân tích tự đông trên máy dựa trên những thông số tiêu chuẩn trên cơ thể. Monitor sẽ là một thiết bị trợ giúp đưa ra kết quả một cách nhanh chóng, chính xác nhất.

Ngoài ra, các loại monitor còn cho phép các bác sĩ không phải lúc nào cũng có mặt để quan sát bệnh nhân mà máy có chế độ tự động cập nhật, đo đạc các chỉ số một cách nhanh chóng, chính xác cũng như đưa ra các báo động kịp thời nếu xảy ra tình trạng bất thường về sức khỏe của bệnh nhân. 

2. Các chỉ số trên máy monitor theo dõi bệnh nhân

– NIBP: Chỉ số đo huyết áp không xâm lấn

– Nhịp thở: số lần thở/phút

– Nhịp tim: Số nhịp tim/phút

– Nhiệt độ cơ thể người bệnh

– EtCO2: áp lực (mmHg) hoặc nồng độ (%) khí cacbonic vào cuối kỳ thở ra của bệnh nhân

– ECG: Chỉ số điện tim

– SpO2: Chỉ số nồng độ bão hòa oxy trong máu

Các loại Monitor theo dõi bệnh nhân càng nhiều thông số (thường là các tùy chọn) thì giá thành càng cao hơn. Nếu xác định nhu cầu bạn cần dùng 4 hay 5-7 thông số nêu trên thì bạn nên lựa chọn Monitor theo dõi bệnh nhân. Còn nếu nhu cầu của bạn chỉ là sử dụng 1 trong các thông số như ECG, SpO2, NiBP thì bạn có thể lựa chọn các loại máy điện tim, máy đo SpO2 hay máy đo huyết áp riêng biệt (Các loại máy này còn có thể hiện nhịp tim, nhịp thở) vì giá thành sẽ rẻ hơn các loại Monitor theo dõi bệnh nhân.

3. Các dòng máy monitor theo dõi bệnh nhân do Việt Phan phân phối:

– Monitor theo dõi bệnh nhân 5 thông số M30 Mediana Hàn Quốc

– Monitor trung tâm – YM9000 – Mediana Hàn Quốc

Monitor theo dõi bệnh nhân 5-7 thông số YM6000 – Mediana Hàn Quốc

PHẪU THUẬT ĐỤC THỦY TINH THỂ GIỮ MẮT SÁNG BAO LÂU

Thanh Hằng Lê No Comments

Phẫu thuật đục thủy tinh thể là gì

Phẫu thuật Phaco hiện là phương pháp tối ưu nhất điều trị bệnh đục thủy tinh thể. Trong phẫu thuật này, thủy tinh thể bị mờ đục sẽ được hút ra và thay bằng thủy tinh thể nhân tạo (ống kính nội nhãn IOLs). Có rất nhiều loại thủy tinh thể nhân tạo. Việc lựa chọn loại thủy tinh thể tùy thuộc vào điều kiện của bệnh nhân và tình trạng của bệnh.

PHẪU THUẬT ĐỤC THỦY TINH THỂ GIỮ MẮT SÁNG BAO LÂU
PHẪU THUẬT ĐỤC THỦY TINH THỂ GIỮ MẮT SÁNG BAO LÂU

Thủy tinh thể nhân tạo là gì

Thủy tinh thể nhân tạo là một dụng cụ y tế đặc biệt, có thể thay thế cho thủy tinh thể bị mờ đục. Trước khi thủy tinh thể nhân tạo được phát minh, người bệnh cần đeo một loại kính áp tròng đặc biệt để có thể nhìn rõ khi bị đục thủy tinh thể. Nhược điểm của loại kính này là rất dày, có thể gây khó chịu, cộm xốn mắt.

Từ năm 1980, Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ đã cho phép thủy tinh thể nhân tạo được sử dụng để thay thế thủy tinh thể mờ đục. Đây là một bước tiến lớn trong y học, giúp mang lại ánh sáng và sự thoải mái cho các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể.

Mục đích của việc mổ đục thủy tinh thể

Mổ đục thủy tinh thể là việc thay thế thủy tinh thể bị mờ đục bằng thủy tinh thể nhân tạo. Phương pháp này thường được chỉ định cho những ai có thị lực dưới 3/10. Mục đích mổ đục thủy tinh thể giúp người bệnh có thể nhìn rõ hơn. Mắt sau khi thay thủy tinh thể sẽ dần hồi phục thị lực sau một đến hai tuần.

Thay thủy tinh thể được mấy lần

Nhiều người cứ nghĩ sau vài năm phải thay thủy tinh thể lại. Tuy nhiên đây là quan niệm sai lầm. Thủy tinh thể có tuổi thọ vĩnh viễn, nghĩa là người bệnh có thể sử dụng thủy tinh thể mãi mãi mà không cần thay lại. Trường hợp đặc biệt như thủy tinh thể nhân tạo bị lệch, hay có vấn đề đặc biệt ở mắt thì mới phải phẫu thuật lại. 

Mổ đục thủy tinh thể mắt sáng trong bao lâu

Thủy tinh thể nhân tạo được thiết kế bằng vật liệu plastic, silicon hay acrylic có tuổi thọ vĩnh viễn. Vì thế nếu không có vấn đề nghiêm trọng, mổ đục thủy tinh thể mắt sáng vĩnh viễn. Nhiều trường hợp đặc biệt người bệnh chỉ có thể nhìn rõ trong một khoảng thời gian nhất định. Nguyên nhân của hiện tượng này là do đục bao sau.

Thủy tinh thể gồm 3 phẩn: bao trước, nhân, bao sau. Khi mổ Phaco, chỉ một phẩn bao trước và nhân được loại bỏ. Bao sau có nhiệm vụ cố định thủy tinh thể nhân tạo sau khi đặt vào vì thể sẽ được giữ lại. Bao sau theo thời gian có thể bị đục cùng theo quá trình lão hóa của cơ thể. Tùy thuộc vào mắt của từng người và chế độ chăm sóc mắt, mà tình trạng đục bao sau có thể phát sau vài tháng hoặc vài năm.

Ngoại trừ đục bao sau, một số bệnh khác có thể ảnh hưởng đến tầm nhìn sau phẫu thuật như rối loạn điều tiết, đục dịch kính, glocom… Nếu rơi vào trường hợp này, cần đến các bệnh viện mắt chuyên khoa để điều trị bệnh.

TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ VÀ PHƯƠNG PHÁP MỔ PHACO

Thanh Hằng Lê No Comments

Bệnh đục thủy tinh thể (cataract) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù trên thế giới và ở Việt Nam, thường gặp ở người trên 50 tuổi. Bệnh diễn tiến từ từ, biểu hiện ban đầu là giảm độ kính lão do xuất hiện cận thị chiết xuất; khi ra ánh sáng, mắt sẽ khó chịu nhưng không bị đau nhức. Sau đó, bệnh nặng hơn, mắt như nhìn qua một lớp kính mờ, thấy một điểm đen cố định trên nền mắt sáng; dần dần bệnh nhân không còn nhìn thấy gì.

Bệnh đục thủy tinh thể là gì?

TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ VÀ PHƯƠNG PHÁP MỔ PHACO
TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ VÀ PHƯƠNG PHÁP MỔ PHACO

Thủy tinh thể là một bộ phận của nhãn cầu, là một thấu kính 2 mặt lồi, trong suốt, dày 4 mm và rộng 9 mm, được bao bởi một màng bán thấm đối với nước và chất điện giải. Thủy tinh thể có chức năng điều tiết để vật thể bên ngoài mắt dù gần hay xa cũng đều có ảnh xuất hiện trên võng mạc. Thủy tinh thể bị đục cũng giống như tấm kính bị mờ không nhìn rõ được bên ngoài. Nếu bị đục hoàn toàn, hình ảnh sẽ không vào được võng mạc, gây mù.

Bệnh đục thủy tinh thể (cataract) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù trên thế giới và ở Việt Nam, thường gặp ở người trên 50 tuổi. Bệnh diễn tiến từ từ, biểu hiện ban đầu là giảm độ kính lão do xuất hiện cận thị chiết xuất; khi ra ánh sáng, mắt sẽ khó chịu nhưng không bị đau nhức. Sau đó, bệnh nặng hơn, mắt như nhìn qua một lớp kính mờ, thấy một điểm đen cố định trên nền mắt sáng. Nguyên nhân gây đục thủy tinh thể là thiếu oxy, tăng lượng nước, giảm protein. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh bao gồm:

  • Tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, ánh sáng nhân tạo (đèn pha sân khấu, trường quay phim, đèn cao áp…),
  • Tiếp xúc với virus, vi trùng, chất độc của môi trường, khói (thuốc lá, máy xe, nhà máy…).

Sự tiếp xúc này sẽ làm tổn thương tiềm tàng thành phần protein của thủy tinh thể, làm mất dần protein và dẫn đến đục. Chế độ dinh dưỡng có liên quan mật thiết với sự hình thành đục thủy tinh thể. Chế độ ăn giàu chất chống oxy hóa và chức năng gan tốt sẽ có tác dụng giúp phòng ngừa bệnh. Người bị đục thủy tinh thể có khuynh hướng thiếu vitamin C, đồng, mangan, kẽm. Beta-carotene giúp “dọn dẹp” tốt các gốc tự do – một tác nhân gây tổn hại mắt, bảo vệ mắt không bị những tổn thương liên quan đến ánh sáng. Còn taurin là một acid amin chính trong thủy tinh thể, có khả năng làm chậm sự khởi phát của bệnh.

Các triệu chứng của đục thủy tinh thể

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh đục thủy tinh thể bao gồm:

  • Mờ mắt, thị lực giảm sút
  • Tầm nhìn giảm vào ban đêm.
  • Tăng nhạy cảm với ánh sáng và độ chói.
  • Nhìn thấy “hào quang” xung quanh đèn.
  • Nhìn đôi.

Ban đầu, đục trong tầm nhìn gây ra do đục thủy tinh thể ảnh hưởng đến chỉ một phần nhỏ ống kính của mắt và có thể không biết về bất kỳ mất thị lực. Như đục thủy tinh thể lớn hơn, u ám nhiều ống kính và làm biến dạng ánh sáng đi qua ống kính. Điều này có thể dẫn đến xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng.

Hẹn khám mắt nếu nhận thấy bất kỳ thay đổi trong tầm nhìn. Nếu phát triển tầm nhìn thay đổi đột ngột, chẳng hạn như tầm nhìn đôi hoặc vết mờ, gặp bác sĩ ngay.

Phẫu thuật điều trị Đục Thủy tinh thể

Bệnh nhân cần được khám chuyên khoa mắt để xác định chẩn đoán và làm các xét nghiệm tìm nguyên nhân.

Các xét nghiệm chuẩn bị cho cuộc mổ và các xét nghiệm đánh giá chức năng của mắt như:

  • Đo thị lực,
  • Nhãn áp,
  • Điện võng mạc.

Siêu âm mắt là một kỹ thuật không thể thiếu giúp chẩn đoán và tiên lượng kết quả phẫu thuật. Trong giai đoạn sớm, khi sự sụt giảm thị lực chưa ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống thì người bệnh có thể đeo kính râm khi ra ngoài trời nắng, hoặc thay đổi độ kính. Nhưng các biện pháp trên chỉ là tạm thời. Khi mắt mờ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống thì cần phải phẫu thuật thay thủy tinh thể.

Phẫu thuật đục thủy tinh thể được thực hiện khi thị lực giảm, ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.Có 2 phẫu thuật đang được áp dụng trong lâm sàng nhãn khoa ở Việt Nam và trên thế giới đó là phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể ngoài bao, đặt thuỷ tinh thể nhân tạo và phẫu thuật tán nhuyễn thuỷ tinh thể bằng siêu âm, đặt thuỷ tinh thể nhân tạo.

Phẫu thuật phaco thay thế thủy tinh nhân tạo

Phaco là viết tắt của từ phacoemulcification (phẫu thuật tán thủy tinh thể bằng sóng siêu âm) nhằm điều trị bệnh đục thủy tinh thể .Từ khi phẫu thuật đục thủy tinh thể ra đời đã khắc phục đáng kể tình trạng mù lòa của bệnh nhân. Ban đầu phẫu thuật đục thủy tinh thể là phẫu thuật trong bao không đặt thủy tinh thể nhân tạo, thị lực của bệnh nhân có cải thiện nhưng rất thấp. Sau phẫu thuật bệnh nhân phải đeo một kính gọng rất dày để nhìn xa rõ hơn. Về sau là phẫu thuật thủy tinh thể ngoài bao có đặt thủy tinh thể nhân tạo giúp cải thiện rất tốt về thị lực. Tuy nhiên, thời gian phẫu thuật lâu, thời gian hồi phục sau mổ kéo dài và có nhiều biến chứng.

Gần đây với phẫu thuật phaco, dùng sóng siêu âm tán nhuyễn nhân thủy tinh thể và hút nhân ra ngoài qua một đầu phaco đặt qua một đường mổ nhỏ tại rìa giác mạc với đường kính khoảng 2mm – 3mm. Thời gian phẫu thuật ngắn khoảng 5-10 phút cho một mắt, giúp thị lực phục hồi nhanh sau mổ, bệnh nhân có thể nhìn rõ ngay ngày hôm sau, giảm tối đa những biến chứng trong và sau mổ, mang lại sự hài lòng cho bệnh nhân. Phương pháp phẫu thuật phaco được áp dụng thực hiện trên những bệnh nhân bị đục thủy tinh thể và không có bệnh toàn thân cấp tính, không có các viêm nhiễm cấp tính tại mắt.

Lưu ý đối với bệnh nhân được chẩn đoán đục thủy tinh thể:

  • Cần khám và theo dõi định kỳ ngay từ giai đoạn đầu 3 tháng/ lần.
  • Khi bệnh nhân đục thủy tinh thể đã có chỉ định mổ thì nên mổ càng sớm càng tốt.
  • Các bệnh nhân đục thủy tinh thể có bệnh lý nội khoa kèm theo (đái tháo đường, cao huyết áp,…) nên phẫu thuật sớm để thuận lợi cho việc chăm sóc mắt và điều trị các biến chứng của bệnh nội khoa tại mắt.

Việc phẫu thuật đúng thời điểm rất quan trọng giúp thị lực phục hồi sớm , phẫu thuật an toàn, ít biến chứng.

Giải pháp trọn gói từ nhập khẩu tới tận tay người sử dụng

Với kinh nghiệm hơn 22 năm trên thị trường, chúng tôi hoàn toàn có đủ năng lực và kinh nghiệm để giúp quý khách hàng có được giải pháp tổng thể: từ tư vấn thiết kế, cung cấp thiết bị cho đến thi công và bảo hành.